Yếu tố con người trong bảo đảm an toàn hàng hải: Nghiên cứu tổng quan (Phần 2)


3. Yếu tố con người trong hàng hải

3.1. Yếu tố con người trong tai nạn hàng hải

Trên thế giới, các báo cáo về tai nạn hàng hải đã cho thấy các vụ tai nạn hàng hải thường diễn ra tại các khu vực gần bờ và có mật độ giao thông hàng hải đông đúc và nhộn nhịp, phổ biến nhất là tại khu vực biển châu Âu, biển Trung Quốc và rải rác trên toàn thế giới, mô tả trong Hình 3 [13].


Hình 3: Phân bố tai nạn hàng hải 20 năm gần đây (Nguồn: Yang Zhang, et al., 2021)

Trong đó, ảnh hưởng của yếu tố con người trong các thống kê từ tai nạn hàng hải trong giai đoạn 10 năm gần đây được mô tả trong Hình 4 [3].


Hình 4: Tỷ lệ đóng góp của khía cạnh con người trong tai nạn hàng hải đối với mỗi loại tàu (Nguồn: Cơ quan An toàn hàng hải Châu Âu (EMSA))

Phân tích Hình 4 nhận xét rằng, khía cạnh con người trung bình đóng góp đến 90% nguyên nhân xảy ra các vụ tai nạn hàng hải (lỗi con người) và khá đồng đều ở tất cả các loại tàu (xấp xỉ 90%). Đặc biệt, dữ liệu thống kê cũng cho thấy tai nạn hàng hải một khi đã xảy ra phần lớn là nghiêm trọng và rất nghiêm trọng. Do đó, yếu tố con người có ảnh hưởng cực kỳ lớn trong vấn đề đảm bảo tai nạn hàng hải, quyết định phần lớn đến hậu quả của tai nạn hàng hải.

Các kiểu lỗi con người xuất phát từ các nguyên nhân chủ yếu sau:

- Ra quyết định: Kinh nghiệm, đào tạo và nhận thức cá nhân có thể ảnh hưởng đến quá trình ra quyết định sai lầm.

- Thông tin liên lạc: Giao tiếp sai, rào cản ngôn ngữ và chia sẻ thông tin không đầy đủ có thể dẫn đến hiểu lầm và sai sót.

- Căng thẳng mệt mỏi: Khối lượng công việc cao, áp lực thời gian, tình huống căng thẳng, thời gian làm việc kéo dài, lịch trình không đều và điều kiện hoạt động đòi hỏi khắt khe ảnh hưởng đến sự tỉnh táo, khả năng ra quyết định kém và thời gian phản ứng chậm hơn.

- Sự chủ quan: Theo thời gian, các cá nhân có thể trở nên chủ quan, tự mãn, đặc biệt là khi thực hiện các công việc thường ngày. Sự chủ quan dẫn đến thiếu chú ý đến từng chi tiết, giảm nhận thức về tình huống và tăng khả năng xảy ra sai sót.

- Thiếu đào tạo huấn luyện và khả năng chuyên môn: Ảnh hưởng đến kỹ năng, kiến thức và phản xạ của thuyền viên khi gặp các sự cố bất ngờ.

3.2. Yếu tố con người trong bảo đảm an toàn hàng hải

Từ những bài học rút ra trong các vụ tai nạn điển hình, sự can thiệp về mặt luật pháp và các biện pháp đảm bảo an toàn hàng hải đã dần được thay đổi, tăng cường thích nghi rất nhiều xuyên suốt lịch sử ngành hàng hải.

Trên thế giới, yếu tố con người quyết định gần như tất cả mọi mặt trong lĩnh vực khai thác hàng hải. Ngay cả khi trong các tình huống bất khả kháng như điều kiện thời tiết khắc nghiệt bất thường, thì con người cũng có ảnh hưởng rất lớn đến giảm thiệt hại có thể xảy ra. Cốt lõi yếu tố con người trong hệ sinh thái hàng hải toàn cầu được tác giả Carine Domiguez Péry mô tả trong Hình 5 [1].


Hình 5: Đóng góp của yếu tố con người trong hệ sinh thái (HST) hàng hải toàn cầu (Nguồn: Carine Dominguez‑Péry, et al., 2023)

Những giải pháp IMO đã thực hiện nhằm hạn chế những tai nạn thảm hoạ tương tự có thể xảy ra thông qua thay đổi, bổ sung, cập nhật hệ thống luật pháp như trong Bảng 1 [7]; yêu cầu bảo đảm và nâng cao an toàn hàng hải nếu không tính tới mặt kỹ thuật thì hầu như đều hướng tới mục tiêu là bảo vệ con người hoặc yêu cầu con người phải thực hiện, tuân theo. Hầu hết, giải pháp yêu cầu thực hiện thường tập trung vào giải quyết, ngăn chặn các vấn đề liên quan đến lỗi con người đã được tác giả đề cập trong Mục 3.1.

Bên cạnh đó, ở Việt Nam, ngoài thường xuyên cập nhật thay đổi trong hệ thống luật hàng hải đã được Chính phủ thực hiện, những bài học rút ra từ tai nạn hàng hải cũng được một số nghiên cứu, báo cáo nêu lên. Trong đó, một số vấn đề nổi bật liên quan đến yếu tố con người đã được đề xuất như:

- Sỹ quan và thuyền viên trên tàu phải tuân thủ triệt để các quy định của Quy tắc phòng ngừa đâm va tàu thuyền trên biển, đặc biệt khi tàu hành trình trong điều kiện tầm nhìn xa bị hạn chế; làm quen với các Quy trình ngăn ngừa ô nhiễm do các chất độc hại gây ra;

- Thuyền trưởng phải mẫn cán, đưa ra các chỉ dẫn, kiểm tra kịp thời tất cả các sỹ quan đang đi ca, tránh lơ là chủ quan trong việc cảnh giới.

- Tăng cường công tác tuyên truyền nâng cao trách nhiệm, nghĩa vụ của hoa tiêu trong quá trình dẫn tàu.

- Trong quá trình thực tập, diễn tập và thử các thiết bị trước khi tàu rời cảng, Thuyền trưởng phải đảm bảo rằng thuyền viên có thể ứng phó với các tình huống khẩn cấp liên quan đến việc điều động tàu vào bất cứ thời điểm nào. Chỉ định người có chuyên môn thực hiện và thuyền trưởng phải đảm bảo là mọi người có liên quan hiểu đầy đủ các quy trình của Công ty.

4. Nghiên cứu về yếu tố con người

4.1. Dữ liệu về nghiên cứu khoa học vấn đề con người trong hàng hải

Số lượng nghiên cứu đã được công bố trên các tạp chí uy tín sử dụng công cụ tìm kiếm trong hệ thống Google Scholar giai đoạn 20 năm gần đây (2001 - 2020) được tổng hợp và thống kê trong Hình 6.


Hình 6: Số lượng nghiên cứu về vấn đề con người trong hàng hải những năm gần đây

Kết quả thể hiện trong Hình 6 cho thấy tầm quan trọng của yếu tố con người trong hàng hải ngày càng được chú ý và nghiên cứu kỹ càng hơn do số lượng bài báo tăng dần qua từng năm.

Một vấn đề cũng cần được quan tâm, đó là mục tiêu nghiên cứu trong các bài báo đã được công bố liên quan đến con người. Kết quả này được thể hiện trong Hình 7.


Hình 7: Mục tiêu nghiên cứu của các bài báo đã được công bố trong giai đoạn 20 năm gần đây

Bên cạnh đó, xem xét các bài báo đã thống kê, tác giả thực hiện thu thập dữ liệu về thuật ngữ sử dụng trong các công trình nghiên cứu này để đạt được mục tiêu tổng quan ban đầu bài báo đặt ra gồm: Lỗi con người - Human error, Yếu tố con người - Human factor, và Khía cạnh con người - Human element. Tỷ lệ sử dụng những thuật ngữ này được mô tả trong Hình 8.


Hình 8: Tỷ lệ sử dụng thuật ngữ trong các bài báo đã được công bố trong giai đoạn 20 năm gần đây

4.2. Đánh giá

Đầu tiên, phân tích dữ liệu bài báo đã công bố thống kê trong Hình 6 cùng với sự đóng góp ảnh hưởng của yếu tố con người trong tai nạn hàng hải như Hình 4, cho thấy:

- Yếu tố con người đóng vai trò quan trọng trong lĩnh vực hàng hải do tỷ lệ ảnh hưởng cao (xấp xỉ 90%) và số lượng nghiên cứu của các nhà khoa học trên thế giới về vấn đề con người tăng dần hàng năm.

- Số lượng nghiên cứu về con người trong hàng hải tăng mạnh trong những năm gần đây minh chứng cho tính thời sự của vấn đề này.

Thứ hai, mục tiêu nghiên cứu của các công trình đã công bố về con người trong hàng hải được thể hiện trong Hình 7 cho thấy:

- Mục tiêu nghiên cứu về vấn đề con người rất đa dạng với 16 vấn đề chính.

- Các nhà nghiên cứu con rất nhiều phân vân trong vấn đề con người khi dữ liệu về mục tiêu xem xét (Review) chiếm số lượng cao nhất (44), những xem xét này chủ yếu tập trung vào phân tích dữ liệu các sự kiện đã thay đổi, điển hình hoặc nghiêm trọng xảy ra trong quá khứ từ đó rút ra những bài học hay xem xét mở ra các nghiên cứu mới.

- Vấn đề được quan tâm nhiều nhất trong các bài báo đã công bố sau review gồm các nghiên cứu về: Tai nạn (41), Kỹ thuật (38), và Rủi ro (34). Sau đó là các nghiên cứu về vấn đề chính sách pháp lý, môi trường làm việc, hoạt động và yếu tố cá nhân của con người. Những vấn đề này làm nổi bật ảnh hưởng của con người trong lĩnh vực hàng hải tới từng vấn đề cụ thể.

- Những mục tiêu ít được quan tâm hơn như: An ninh, Văn hoá, Tổ chức,... mặc dù có số lượng không nhiều nhưng cũng góp phần hoàn thiện bức tranh về ảnh hưởng của yếu tố con người trong hàng hải.

Cuối cùng, phân tích tỷ lệ sử dụng thuật ngữ trong các bài báo mô tả trong Hình 8 với kết quả: Lỗi con người - 55,17%, Yếu tố con người - 31,03%, Khía cạnh con người - 13,79%, nhận xét rằng:

- Thuật ngữ lỗi con người được sử dụng phổ biến nhất, làm rõ ràng thêm mục tiêu nghiên cứu của vấn đề con người trong hàng hải đó là khai thác, khắc phục các vấn đề có thể dẫn đến lỗi con người, góp phần đảm bảo an toàn hàng hải.

- Thuật ngữ yếu tố con người được sử dụng ít hơn và ít nhất là khía cạnh con người, cho thấy tầm ảnh hưởng và ý nghĩa của những thuật ngữ này trong vấn đề con người với lĩnh vực hàng hải. Mặt khác, dữ liệu tác giả thống kê được hầu hết cho thấy với những tài liệu sử dụng thuật ngữ Khía cạnh con người chủ yếu là các tài liệu liên quan đến pháp lý và điều kiện sinh hoạt nghỉ ngơi của thuyền viên ở trên tàu (IMO), trong khi thuật ngữ yếu tố con người thường được sử dụng song hành với thuật ngữ lỗi con người trong các bài báo khoa học, phần nào càng làm rõ ý nghĩa của mỗi thuật ngữ mà tác giả đã trình bày ở phần trên.

5. Kết luận

Bài báo đã thực hiện nghiên cứu tổng quan về vấn đề con người trong hàng hải. Những thuật ngữ liên quan gồm: Yếu tố con người, Khía cạnh con người, Lỗi con người được giải thích và phân biệt cụ thể. Sự đóng góp của yếu tố con người trong lĩnh vực hàng hải cũng được trình bày thông qua phân tích dữ liệu về con người trong tai nạn hàng hải và các biện pháp bảo đảm an toàn hàng hải với vấn đề con người được làm rõ. Cuối cùng, các dữ liệu thống kê nghiên cứu về con người đã được công bố trong những năm gần đây cũng được thu thập, phân tích và đánh giá để hoàn thiện bức tranh tổng quan về vấn đề con người trong hàng hải, đạt được mục tiêu đặt ra của bài báo.

Vũ Đăng Thái - Khoa Hàng hải, trường Đại học Hàng hải Việt Nam

Đặng Đình Chiến - Viện Đào tạo quốc tế, trường Đại học Hàng hải Việt Nam

TÀI LIỆU THAM KHẢO

[1] Carine Dominguez‑Péry, et al., (2023). A holistic view of maritime navigation accidents and risk indicators: examining IMO reports from 2011 to 2021. Journal of Shipping and Trade, 8:11.

[2]  Coraddu A., et al., (2020). Determining the most influential human factors in maritime accidents: A data-driven approach. Ocean Engineering. Vol.211, 107588.

[3]  EMSA (2021). Annual Overview of Marine Casualties and Incidents 2021.

[4] Gordon, R.P.E (1998). The contribution of human factors to accidents in the offshore oil industry. Reliability Engineering and System Safety. Vol.61, 95-108.

[5] IMO (1997). Nghị quyết A.849(20).

[6] IMO (1999). Nghị quyết A.884(21).

[7] Schröder J. U. (2004). Data collection at accident causes and contributing factors of accidents in the maritime. Bremerhaven: Wirtschaftsverlag NW Verlag für neue Wissenschaft.

[8] The Nautical Institute, UK (2003). Exploring the Human Element-The International Maritime Human Element Bulletin; The Nautical Institute: London, UK.

[9] U˘gurlu, O.; Yıldız, S.; Loughney, S.; Wang, J. (2018). Modified human factor analysis and classification system for passenger vessel accidents (HFACS-PV). Ocean Engineering. Vol.161, pp.47-61.

[10] Vũ Đăng Thái (2023), Rủi ro hàng hải: Tổng quan và xu hướng nghiên cứu. Tạp chí Khoa học Công nghệ Hàng hải, Số 75, tr.82-87.

[11] Wróbel, K. (2021). Searching for the origins of the myth: 80% human error impact on maritime safety. Reliability Engineering and System Safety. Vol.216, 107942.

[12] Xiao Fei Ma, et al., (2023). Unraveling the Usage Characteristics of Human Element, Human Factor, and Human Error in Maritime Safety. Applied Sciences, Vol.13, 2850.

[13] Yang Zhang, et al., (2021). Spatial patterns and characteristics of global maritime accidents. Reliability Engineering and System Safety, Vol.206, 107310.