Một đoạn lịch sử về thương cảng Hải Phòng: Bến Ninh Hải trong thế kỉ 19

Sang đầu thế kỷ 19, tàu bể của Tây dương qua lại các cửa bể nước ta một ngày một đông, khi dừng ở Sài Gòn, khi dừng ở Đà Nẵng. Duy ở Bắc Kì lúc bấy giờ chưa có một thương khẩu nào thuận tiện để cho tàu bè ngoại quốc có chỗ dừng chân và tiện việc kiểm sát của Sở tuần cảnh và Sở thương chánh. Triều đình ta (lúc bấy giờ về đầu triều Tự Đức) mới sai ông Phạm Phú Thứ là Tổng đốc Hải Dương chọn một chỗ để lập nha Thương chính. Ông nhận thấy địa phận mấy làng thuộc huyện An Dương ở trên ngã ba sông Tam Bạc và sông Cấm là một nơi vừa tiếp cận bờ bể, vừa có đủ lối thủy lục giao thông với các tỉnh trung châu như Đáp Cầu, Phủ Lạng Thương, Hà Nội Nam Định, Hưng Yên,… bèn làm tấu sớ tâu xin vua thiết lập nha Thương Chính ở Bắc Kỳ lấy tên là bến Ninh Hải được vua Tự Đức chuẩn y.

Bến Ninh Hải

Nhà Thương Chính lúc bấy giờ thiết lập ở Tả ngạn sông Tam Bạc, bên cạnh Sở pháo thủ thành phố Hải Phòng bây giờ. Nhà này chung quanh có thành gạch, giống như một vương phủ ở Huế, ngày nay nhà cửa đều tàn phá, nhường chỗ cho một trường học, chỉ còn lại một cái cửa trên có đề bốn chữ “Thương chánh nha môn”, một cái bia của ông Phạm Phú Thứ dựng lên kỉ niệm công cuộc kiến thiết đó nhưng đến nay nét chữ đã mờ (bài bia này chúng tôi sẽ sao lục đăng sau) và mấy mảnh thành cổ gọi là di tích của cựu thời.

Nha thương chính thành lập xong, các tàu thuyền qua lại Bắc Kỳ đều phải dừng lại đấy để nộp thuế tuần, trái hẳn với ngày trước các thuyền bè phải lên tận bến Kế mới nộp thuế được.

Triều đình nhận thấy thương khẩu Ninh Hải (Tên Hải Phòng lúc bấy giờ) chóng phát đạt hàng năm thu lợi cho công quỹ được một món tiền khá lớn, có ý muốn mở màn thêm và bồi đắp các chỗ bùn lầy để lấy chỗ cho nhân dân đến sinh cơ lập nghiệp, công việc đó triều đình ủy cho ông Doãn Uẩn doanh điền sứ Nam Định trông nom. Doãn tướng công nhờ được ông Bùi Viện là một người Việt Nam xuất dương sang Hoa Kỳ trước nhất, giúp sức, nên công việc tiến hành được nhanh chóng, chẳng bao lâu một dẫy phố bên hữu ngạn sông Tam Bạc (bây giờ từ cầu xe hỏa đến cầu Joffre) và chung quanh dinh thự các quan chức trông nom thương khẩu (bây giờ là phố Hải Dương, tục gọi là phố Dinh) thành lập.

Việc buôn bán có vẻ sầm uất nhất là người Khách đua nhau đến  sinh cơ lập nghiệp rất đông.

Sau nhờ có ông Hồ Trọng Định lúc bấy giờ làm Tuần phủ Quảng Yên kiêm chức giám đốc Ninh Hải thương chánh nha cũng là một vị quan lại rất tận tâm với chức vụ nên công vệc mở mang Ninh Hải vẫn tiếp tục tiến hành, cho đến khi Triều đình ta kí hòa ước với ông Philastre nhượng Hải Phòng làm đất nhượng địa cho nước Pháp.

Một thành phố và cảng ở Việt Nam trên Cửa Cấm (một trong những nhánh của đồng bằng sông Hồng), do người Pháp
thành lập vào năm 1874. Ảnh chụp năm 1890. Nguồn: Lưu trữ đại học Coote D’Azur (Pháp)

Vào thế kỉ thứ 17,  tàu buồm các nước Hòa Lan, Anh Cát Lợi và Nhật Bản đã bắt đầu ra vào Bắc Kỳ hoặc để buôn bán, thám hiểm hay giảng đạo, nhưng hình như họ không do cửa Nam Triệu, cửa Cấm vào ngách sông Thái Bình, mà chỉ do cửa Ba Lạt vào sông Hồng Hà và hay trú ngụ ở Hưng Yên, người ngoại quốc lập ở phố Hiến gần Hưng Yên, nhiều nhà buôn, cho nên lúc bấy giờ đã có câu ca dao “thứ nhất kinh kỳ, thứ nhì phố Hiến”.

Thảng hoặc các tàu ngoại quốc cũng có vào cửa Cấm, nhưng vì thấy núi non hiểm trở nên lại trở ra hoặc chỉ đi qua mà không lưu lại lâu, nên trong sử không thấy chép.

Theo sách ông Jean Marquet chép về Hải Phòng thì đến năm 1872, chiếc thông báo hãm Bourayne do thủy sư trung tá Senez chỉ huy đi thám hiểm ven bể Việt Nam ra vào cửa Cấm trước nhất, mục đích cốt để đón một đoàn thương thuyền của Jean Dupuis.

Jean Dupuis được Chính phủ Nam Kì ủng hộ công cuộc ông đi thám hiểm sông Hồng Hà, khi nghe tin ông sắp đem một đoàn thương thuyền vào nội địa Bắc Kì đi Vân Nam chở khí giới đạn dược cho họ mã thì đại tước d’Arband quyền Thống đốc Nam Kì ran gay lệnh cho thủy quân trung tá Senez đem tàu đi hộ vệ.

Cảng Hải Phòng khoảng năm 1930. Ảnh: EFEO

Đến thời ông Dupré làm thống đốc Nam Kì, nước Pháp muốn tìm ở Bắc Kì một nơi căn cứ đại cho thủy quân, ông bèn sai ông Philastre, thủy quân đại tá Testard du Cosquer và viên hạm trưởng chiếc tàu “d’Estrée” là Diot ra Bắc Kì xem xét. Chiếc tàu d’Estrée chở nhà ngoại giao Philastre và các người tùy tòng vừa vào quá Đồ Sơn được một quãng thì bị mắc cạn, ông phải đổ bộ và viết giấy lên Hà Nội nhờ ông Francis Garnier gửi xuống mộ chiếc tàu khác cấp cứu. Nhưng lúc bấy giờ ông Francis Garnier ở Hà Nội đã hãm vào một tình cảnh rất khó khăn nên ông Philastre đành phải đáp ca nốt lên Hải Dương

Chỉ trong mấy ngày bị mắc cạn đó,ông Philastre và thủy quân đại tá Cosques mới có thì giờ quan sát kĩ bến Ninh Hải và định lập nơi căn cứ thủy quân của nước Pháp ở đấy.

Lựa chọn xong, ông Philastre gửi về điều đình với triều đình Huế và ngày 1 Mars 1874, ông đã kí hòa ước ấy nói: “Triều đình Huế bằng lòng nhường cửa bể Thị Nại (Quy Nhơn) và Ninh Hải (Hải Phòng) cho nước Pháp buôn bán.

Cảng Hải Phòng khoảng năm 1930. Ảnh: EFEO

Hồ Khắc Quảng

(Nguồn: BáoTrung Bắc Tân Văn, Số 4, 24 Tháng Ba 1940)